JOOLA Pro V (Gen 5) là gì: công nghệ KineticFrame và 6 dáng vợt
JOOLA gen 5 là dòng vợt Pro V ra mắt 03/03/2026: khung KineticFrame ở cổ vợt, lõi Propulsion Core, 6 dáng Perseus, Hyperion, Agassi, Graf, Kosmos, Scorpeus kèm bảng thông số hãng.
Nội dung bài viết
JOOLA gen 5 là cách người chơi Việt Nam gọi dòng vợt JOOLA Pro V, bộ sưu tập vợt cao cấp JOOLA công bố ngày 03/03/2026, đời kế tiếp Pro IV (mà nhiều người quen gọi là gen 4). Điểm mới của Pro V là khung KineticFrame đặt ở cổ vợt; phần lõi Propulsion Core, viền foam Hyperfoam Edge Wall và mặt Textured Carbon Fiber được giữ lại. Dòng này có 6 dáng vợt: Perseus, Hyperion, Agassi, Graf, Kosmos và Scorpeus, lõi 14mm hoặc 16mm, và theo trang hãng đều đạt chứng nhận UPA-A lẫn USA Pickleball.
JOOLA gen 5 là tên gọi nào của hãng
Trên trang chính thức, JOOLA không dùng chữ "Gen 5" mà gọi tên dòng là Pro V. Thông cáo ra mắt ngày 03/03/2026 cho biết Pro V là bộ sưu tập toàn diện nhất và tập trung vào hiệu năng nhất của JOOLA tới thời điểm đó. Pro V đưa trở lại các dáng vợt quen thuộc Perseus, Scorpeus, Hyperion, Agassi và bổ sung một dáng hoàn toàn mới là Kosmos.
Cách gọi "gen 5" xuất phát từ việc JOOLA từng đặt tên chính thức "Gen 3" cho dòng vợt ra mắt tháng 4/2024, sau đó là 3S, rồi Pro IV (ra mắt 04/03/2025) và Pro V. Vì vậy các cụm "JOOLA gen 5", "vợt JOOLA gen 5" hay "JOOLA 5" đều chỉ dòng Pro V. Trên Pick Việt Nam, mọi vợt của dòng này nằm trong mục vợt pickleball JOOLA và có chữ "Pro V" trong tên sản phẩm.
KineticFrame: phần thay đổi chính ở cổ vợt Pro V
KineticFrame là công nghệ JOOLA đang chờ cấp bằng sáng chế (patent-pending), lấy cảm hứng từ kỹ thuật "kick-point" của gậy khúc côn cầu và gậy golf. Theo bài giới thiệu công nghệ của hãng, đội kỹ sư đã thử điểm uốn ở nhiều vị trí trên vợt và chọn phần cổ vợt (throat) vì đây là chỗ cho độ uốn có kiểm soát và hiệu quả nhất. Khung ở cổ được làm mảnh hơn, gia cố bằng sợi carbon để tạo thiết kế hai điểm xoay (dual pivot).

Điểm khác so với vợt thông thường nằm ở cách vợt uốn. JOOLA mô tả vợt truyền thống uốn ở cổ như "tấm ván nhún" (diving board), còn KineticFrame cho đầu vợt dịch chuyển song song với vị trí ban đầu, nên mặt vợt giữ vuông với bóng trong lúc tiếp xúc. Hãng liệt kê các lợi ích của chuyển động này:
- Hướng bóng ra khỏi mặt vợt dễ đoán và lặp lại được qua từng cú đánh.
- Lực đánh không bị giới hạn mà vẫn chính xác, năng lượng cú vung truyền vào bóng.
- Giảm sai lệch góc bật của bóng, kể cả khi bóng chạm lệch tâm.
- Khung bật về vị trí trung tính nhanh hơn, giúp sẵn sàng trong các pha đôi công tay nhanh.
Austin Kim, trưởng bộ phận sản phẩm pickleball của JOOLA, cho biết khi chuyển từ Pro IV lên Pro V, nhóm thiết kế tập trung làm lại cấu trúc ở cổ vợt để tăng độ uốn nhưng vẫn có kiểm soát; mục tiêu là độ uốn giúp cảm giác bóng, độ xoáy, độ ổn định và độ chính xác tốt hơn mà không làm mất lực. JOOLA cũng cho biết Pro V có thêm một lớp sợi carbon giữa Propulsion Core và lõi tổ ong polypropylene để tăng độ bền.
Những công nghệ Pro V giữ lại từ đời trước
Bên cạnh KineticFrame, trang sản phẩm của cả 6 dáng Pro V đều ghi ba công nghệ đã có từ các đời trước:
- Propulsion Core: lõi đã được cấp bằng sáng chế, thêm độ uốn có kiểm soát vào bên trong vợt để tạo hiệu ứng đàn hồi như lò xo. Theo JOOLA, người chơi dễ có lực ở các cú drive, phản đòn và speed-up mà không cần vung mạnh hơn.
- Hyperfoam Edge Wall: foam được bơm vào quanh viền vợt để tăng độ ổn định ở mép, mở rộng điểm ngọt và dễ tha lỗi hơn khi bóng chạm lệch tâm.
- Mặt Textured Carbon Fiber: bề mặt sợi carbon có vân nhám, cùng loại mặt JOOLA dùng trên Pro IV.
Trong bảng thông số của Agassi Pro V và Graf Pro V, JOOLA ghi cấu tạo lõi là "PP core + CF + EVA foam wall", tức lõi polypropylene, lớp sợi carbon và vách foam EVA. Tay cầm của các mẫu Pro V dùng loại Feel-Tec. Về chứng nhận, các trang Pro V đều ghi đạt UPA-A và USAP; trên web, thông số các mẫu Pro V bản thường ghi "USAP Approved · UPA-A Certified · PBCoR .43 Certified".
6 dáng vợt JOOLA Pro V và thông số hãng công bố
JOOLA chia 6 dáng Pro V vào 3 nhóm. Nhóm Elongated (thường dài 16,5–17 in, rộng 7,5 in) tăng tầm với, đòn bẩy và lực nhưng thường kém tha lỗi hơn vì điểm ngọt nhỏ hơn. Nhóm Standard (thường 16 × 8 in) ưu tiên điểm ngọt lớn, dễ tha lỗi và tốc độ tay. Nhóm Hybrid (khoảng 16,3 × 7,7 in) nằm giữa hai nhóm trên. Bảng dưới lấy số liệu từ trang sản phẩm của hãng:
| Dáng vợt | Nhóm dáng | Kích thước mặt (dài × rộng) | Dài cán | Phiên bản (lõi, nặng, chu vi cán) |
|---|---|---|---|---|
| Perseus Pro V | Elongated | 16,5 × 7,5 in (41,9 × 19,1 cm) | 5,5 in (14 cm) | Ben Johns 14mm: 7,9 oz, 4,25 in; Ben Johns 16mm: 8,1 oz, 4,25 in; Simone Jardim 16mm: 8,1 oz, 4,125 in |
| Hyperion Pro V | Elongated | 16,5 × 7,5 in (41,9 × 19,1 cm) | 5,5 in (14 cm) | 14mm: 7,9 oz, 4,125 in; 16mm: 8,1 oz, 4,25 in |
| Agassi Pro V | Elongated | 16,5 × 7,5 in (41,9 × 19,1 cm) | 5,5 in (14 cm) | 14mm: 7,9 oz, 4,125 in; 16mm: 8,1 oz, 4,25 in |
| Graf Pro V | Elongated | 16,5 × 7,5 in (41,9 × 19,1 cm) | 5,5 in (14 cm) | 16mm: 8,1 oz, 4,125 in |
| Kosmos Pro V | Hybrid | 16,3 × 7,7 in (41,4 × 19,6 cm) | 5,25 in (13,3 cm) | Tyson McGuffin 14mm: 7,9 oz, 4,125 in; Federico Staksrud 16mm: 8,1 oz, 4,25 in |
| Scorpeus Pro V | Standard | 16 × 8 in (40,6 × 20,3 cm) | 5,25 in (13,3 cm) | Anna Bright 14mm: 8,0 oz, 4,125 in; Anna Bright 16mm: 8,2 oz, 4,125 in; Collin Johns 16mm: 8,2 oz, 4,25 in |
Quy đổi: 7,9 oz ≈ 224 g, 8,0 oz ≈ 227 g, 8,1 oz ≈ 230 g, 8,2 oz ≈ 232 g; chu vi cán 4,125 in ≈ 10,5 cm, 4,25 in ≈ 10,8 cm. JOOLA ghi chu vi cán có thể chênh nhẹ giữa các cây.
Bốn dáng Elongated: Perseus, Hyperion, Agassi, Graf
Theo JOOLA, Perseus là dáng vợt phổ biến nhất của hãng: góc trên bo tròn kết hợp thân dài giúp điểm ngọt nằm ở giữa mặt vợt mà vẫn tăng tầm với. Hyperion có đầu vợt cong khí động học (aero-curve) để cắt gió nhanh hơn, hợp với người thích tay nhanh và phản xạ nhanh. Agassi có cổ vợt thuôn và điểm ngọt mở rộng lên phần trên của mặt vợt, phù hợp người hay chạm bóng ở phần đầu vợt như người chuyển từ tennis sang. Graf Pro V 16mm dùng chung dáng với Agassi Pro V 16mm nhưng cán mảnh 4,125 in.

Kosmos (Hybrid) và Scorpeus (Standard)
Kosmos là dáng hybrid đầu tiên của JOOLA, kết hợp tầm với của Perseus với điểm ngọt rộng của Scorpeus. Bản 16mm là vợt chữ ký đầu tiên của Federico Staksrud tại JOOLA; bản 14mm là vợt chữ ký mới của Tyson McGuffin, người chuyển từ dáng Magnus sang Kosmos ở đời Pro V. Trang Kosmos Pro V Federico Staksrud 16mm ghi lõi 16mm cho thời gian bóng nằm trên mặt vợt (dwell time) lâu hơn.

Scorpeus là dáng rộng nhất, dễ tha lỗi nhất và ngắn nhất trong dòng Pro V. JOOLA đánh giá dáng này hợp đánh đôi vì mặt rộng mở rộng điểm ngọt cho các cú chặn, reset và phản đòn. Người tay lớn có thể chọn Scorpeus Pro V Collin Johns 16mm với cán 4,25 in, còn hai bản Anna Bright dùng cán 4,125 in.
14mm hay 16mm trong dòng Pro V
Năm trong sáu dáng Pro V có cả hai độ dày lõi; riêng Graf chỉ có 16mm. Trong bài phân tích dáng Agassi và Graf, JOOLA giải thích lõi 14mm mỏng hơn nên xoay vợt nhanh hơn, phản hồi nhanh hơn và bóng bật mạnh hơn khi chạm, hợp người chơi chủ động gây áp lực. Lõi 16mm thiên về kiểm soát và độ ổn định: lõi dày hấp thụ va chạm, cảm giác mềm hơn ở các cú đánh ngắn, đồng thời dễ tha lỗi hơn khi bóng chạm lệch tâm.

Hai bản cùng dáng chỉ chênh khoảng 0,2 oz (khoảng 6 g), nhưng chu vi cán có thể khác nhau tùy phiên bản chữ ký, nên khi chọn một cây JOOLA gen 5 cần xem cùng lúc độ dày lõi và chu vi cán. Cách đọc từng thông số được giải thích chi tiết trong bài cách chọn vợt pickleball qua 8 thông số.
Phiên bản đặc biệt của Pro V trên web
Ngoài 13 mẫu chữ ký bản thường, Pick Việt Nam có hai nhóm phiên bản riêng của dòng Pro V. Nhóm thứ nhất là Rally Rocket: theo thông cáo ngày 20/05/2026, JOOLA phát hành Rally Rocket là bộ sưu tập giới hạn, làm lại mẫu mã cho các dáng Pro V Agassi, Perseus, Scorpeus, Hyperion và Kosmos; trên web hiện có Perseus Pro V Rally Rocket 16mm và Kosmos Pro V Rally Rocket 16mm. Nhóm thứ hai là Agassi Pro V bản Washed Indigo 14mm và 16mm; trang hãng đã lưu chưa có trang riêng cho bản này, nên web ghi thông số theo Agassi Pro V gốc (7,9 oz và 8,1 oz).
Tóm lại, JOOLA gen 5 chính là Pro V: cùng nền tảng Propulsion Core, Hyperfoam Edge Wall và mặt Textured Carbon Fiber như đời trước, thêm khung KineticFrame ở cổ vợt và dáng hybrid Kosmos. Toàn bộ các mẫu Pro V đang bán được xếp chung trong trang thương hiệu JOOLA để tiện so thông số giữa các dáng.
Câu hỏi thường gặp
JOOLA gen 5 là vợt gì?
JOOLA gen 5 lõi gì?
Vợt JOOLA gen 5 có mấy dáng?
JOOLA gen 5 có dùng thi đấu được không?
Giá vợt JOOLA gen 5 bao nhiêu?
Sản phẩm nhắc tới trong bài trên
Bài viết cùng chủ đề
JOOLA Scorpeus Pro V và Kosmos Pro V: hai dáng vợt rộng của gen 5
JOOLA Scorpeus Pro V (Standard 16 × 8 in) và Kosmos Pro V (Hybrid 16,3 × 7,7 in): thông số bản Anna Bright, Collin Johns, Tyson McGuffin, Federico Staksrud và cách JOOLA mô tả từng dáng.
So sánh vợt JOOLA gen 4 và gen 5: Pro IV khác Pro V ở đâu
So sánh vợt JOOLA gen 4 (Pro IV) và gen 5 (Pro V) theo thông số hãng: TechFlex Power và KineticFrame, cấu tạo lõi, bảng trọng lượng và chu vi cán từng cặp cùng dáng, Magnus và Kosmos.
Các đời vợt JOOLA: Gen 3, 3S, Pro IV (gen 4), Pro V (gen 5) và cách phân biệt
Các đời vợt JOOLA từ Gen 3 (2024), 3S, 3S Dual đến Pro IV (gen 4), Pro V (gen 5) và Power FX: thời điểm ra mắt, công nghệ, bề mặt, chứng nhận theo hãng, kèm bảng phân biệt nhanh.
Bảng giá vợt JOOLA chính hãng: Pro V, Pro IV, Agassi, Gen 3, Power FX
Bảng giá vợt pickleball JOOLA trên Pick Việt Nam ngày 20/10/2026: đủ 34 mẫu Pro V (gen 5), Pro IV (gen 4), Colorway, Agassi Pro, Gen 3 và Power FX, kèm mã hàng và độ dày lõi.




